Từ Đức Dũng

Nghiên cứu & dược liệu

Đặc tính khoa học của cây có vị thuốc thuộc chi Hedyotis (Dr.Hoa Xà)

10 phút đọc

NCV: TỪ ĐỨC DŨNG

https://nld.com.vn/khoa-hoc/nghien-cuu-thuoc-ho-tro-chua-ung-thu-20121212092939777.htm

PGS.TS. NGUYỄN KIM PHI PHỤNG

https://vnuhcm.edu.vn/sinh-vien_33386864/gs-ts-nguyen-kim-phi-phung-40-nam-can-man-va-sang-tao/3536396864.html

DS.PHAN ĐỨC BÌNH

https://thitruong.nld.com.vn/suc-khoe/my-pham-co-the-gay-hai-cho-suc-khoe-20160919085923642.htm

updated 2012 khoa học phổ thông số 189

(Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật TpHCM,số 189 phát hành 2-10-2009)

Như đã biết, xung quanh ta có vô số các loài thực vật, mỗi loài thực vật lại hàm chứa trong nó vô số các hợp chất hóa học. Việc tìm hiểu thành phần hóa học trong các loại cây là hết sức quan trọng, bởi vì từ đó chúng ta có thể hiểu rõ thêm một tính chất cực kỳ quan trọng, đó là hoạt tính sinh học. Việc tìm hiểu này đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành dược liệu phục vụ đời sống con người ngày một tốt hơn.

Nhờ sự trợ giúp đắc lực của khoa học – kỹ thuật, nhiều loại tân dược đã được điều chế bằng phương pháp tổng hợp. Song song với sự phát triển của các loại tân dược, những bài thuốc gia truyền của các danh y Việt Nam cũng dần được biết đến nhiều hơn. Với xu hướng sử dụng các loại dược phẩm từ thiên nhiên, những bài thuốc gia truyền đang được ngành dược phẩm và khoa học đặc biệt chú ý.

Với ưu thế là một nước có nhiều loại thực vật phát triển cùng với kho tàng y học cổ truyền, việc thăm dò và tìm ra các loài cây thuốc quý hiếm là một công việc cần thiết. Phần lớn các cây thuốc được thu hái và chế biến theo kinh nghiệm của từng địa phương. Do đó, việc khảo sát thành phần hóa học của cây thuốc giúp hiểu đúng hoạt tính sinh học của từng loài, làm cơ sở cho việc sử dụng cây thuốc có căn cứ khoa học hơn.

Hiện nay, tại Việt Nam, người dân thường dùng các loại cây thuốc loài Hedyotis, họ Cà phê (Rubiaceae) trong nhiều bài thuốc dân gian. Theo các nghiên cứu khoa học, loài này có chứa các hợp chất sterol như stigmasterol, b-sitosterol và acid triterpen như acid ursolic, acid oleanolic và các hợp chất này đã được các nghiên cứu khoa học ghi nhận có hoạt tính trên nhiều dòng tế bào ung thư và cả HIV trong thử nghiệm phòng thí nghiệm (in vitro).

Nhận thấy đây là nhóm cây có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: góp phần tìm hiểu sự hiện diện của triterpenoid, steroid, quinonoid trong một số cây thuộc chi Hedyotis và thử nghiệm hoạt tính sinh học của các hoạt chất này.

Giới thiệu về các cây thuộc chi Hedyotis – họ Cà phê (Rubiaceae)

1. Cây Hoa kim cương, tên khoa học là Hedyotis nigricans L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), mọc dọc vùng cát biển thuộc vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam có ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu… Thân cứng, tròn hay có 4 cạnh tròn, có lông mịn. Lá có phiến tròn dài, thon, to 3-4 cm, không lông, mặt trên đôi lúc tia nâu đen, gân phụ 4 cặp, cuống ngắn, lá đài 4-5, cao 3-4 mm, thon hẹp, tai 2 x 0,5 mm, namg hình cầu, to 2mm, không lông, hột nhiều. Thu hái chủ yếu ven vùng biển nắng như: Bình Thuận, Ninh Thuận….

Cây Hoa kim cương, tên khoa học là Hedyotis nigricans L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)

2. Cây Răm núi, tên khoa học là Hedyotis merguensis Hook.f., thuộc họ 2. Cà phê (Rubiaceae), cỏ bò, thu hái có thể ở vườn hay vùng núi Quảng Trị, núi Dinh, Hưng Lộc, Lâm Đồng…phát triển mạnh vào mùa hè và mùa thu. Cỏ bò, có rể ở mắt, thân có lông sát dày, tròn lúc lớn. Lá có phiến tròn hay bầu dục, dài 2-7 cm, có lông mặt dưới nhưng không dày, gân phụ 5-7 cặp khó nhận tùy khu vực sống có thể gân so le hoặc đối, lá bẹ rất đặc trưng có 10-12 lông gai dài đến 1 cm. Chụm ở chót thân, hoa to, cao 10 – 15 mm, trắng, 4-5 phân. Nang 3 mm, không tự khai hột có khỏang 20 hộp. Thu hái có thể ở vườn hay vùng núi Quảng Trị, núi Dinh, Hưng Lộc, Lâm Đồng….

Cây Răm núi, tên khoa học là Hedyotis merguensis Hook.f., thuộc họ 2. Cà phê (Rubiaceae)

3. Cây An điền hai hoa (An điền hoa đôi, Cây đơn dòng, Cây nọc sởi), có tên khoa học là Hedyotis biflora L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), thường gặp ở sân, vườn từ bình nguyên đến trung du khắp nước ta. Thường phát triển mạnh mẽ về mùa hè và mùa thu. Ngoài ra, cây cũng có ở nhiều nước khác như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia… Cỏ bò, không lông, có rễ ở mắt; thân hơi mập, phân cành nhiều. Lá có phiến thon hẹp, dài từ 1 đến 4 cm, gân phụ không rõ, cuống như có cánh; lá kèm có 2 răng. Tán ở nách và ở ngọn nhánh; có từ 2 đến 4 hoa màu trắng, đôi khi hơi tím. Quả nang nhẵn bóng, to 4 mm, nằm trong đài có 4 gân; hạt nhỏ, nhiều. Cây ra hoa, kết quả gần như quanh năm.

Cây An điền hai hoa (An điền hoa đôi, Cây đơn dòng, Cây nọc sởi), có tên khoa học là Hedyotis biflora L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)

4. Cây An điền cỏ, có tên khoa học là Hedyotis herbaceae L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), là loài cây của Ấn Độ, Pakistan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Philippins. Ở nước ta, cây mọc ở vườn nơi có cát, nhất là ở vùng gần biển.

Cây An điền cỏ, có tên khoa học là Hedyotis herbaceae L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)

5. Cây Lữ đồng, có tên khoa học là Hedyotis heynii R.Br., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), là loài cây phổ biến ở Ấn Độ, Madagascar, Việt Nam. Ở nước ta, cây thường gặp ở vùng đồng bằng miền Nam. Cây thảo hằng năm, cao từ 15 đến 40 cm, mảnh, không lông; thân có 4 cạnh tròn. Lá có phiến hẹp, dài từ 4 đến 6 cm, đầu nhọn, mỏng; gân phụ không rõ; lá kèm từ 2 đến 3 mũi, cao từ 1 đến 1,5 cm. Hoa đơn độc hoặc theo từng cặp, màu trắng, đài có 4 thùy, tràng có ống cao 1,2mm, trên cuống dài đến 1cm; hạt nhiều. Cây ra hoa quả quanh năm.

Cây Lữ đồng, có tên khoa học là Hedyotis heynii R.Br., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)

Thử tính kháng khuẩn

tại phòng thí nghiệm sinh lý động và sinh học phân tử thuộc khoa công nghệ sinh học- Đại học Khoa Học Tự Nhiên.

Thử trên (Gram âm)Escherichia coli, Salmonela typhi và (Gramdương)Staphylococus aureus, Bacillus subtilis.

Thực hiện trên 5 loại cao alcol và 5 loại cao nước của các cây. Cao được thử ở nhiều nồng độ khác nhau (200mg/ml, 100mg/ml, 50mg/ml). Hình chụp minh họa cho thấy kết quả rõ nhất với cao được thử ở nồng độ 100mg/ml.

Bảng 3: nồng độ thử kháng khuẩn 100mg/ml

Vi sinh vật & Mẫu thử Bacillus subtilis Salmonela typhi
Hedyotis heynii + +
Hedyotis herbacea + +
Hedyotis biflora + +
Hedyotis nigricans + +
Hedyotis merguensis + +
Dung môi – –

(+): có kháng khuẩn

(-): không kháng khuẩn

Bảng 4: nồng độ thử kháng khuẩn 100mg/ml

Vi sinh vật & Mẫu thử Staphylococcus aureus E. coli
Hedyotis heynii + +
Hedyotis herbacea + +
Hedyotis biflora + +
Hedyotis nigricans + +
Dung môi – –

(+): có kháng khuẩn

(-): không kháng khuẩn

Thử nghiệm độc tính Brine Shrimp

Ấu trùng thử nghiệm là nauplius của ấu thể Artemia salina Leach 48 giờ tuổi.

Các mẫu thử nghiệm là các loại cao trích từ cây thực hiện theo sơ đồ 1 gồm có cao nước, cao etanol. Mỗi mẫu thử với nhiều nồng độ khác nhau, mỗi nồng độ thử với 3 ống nghiệm.

Mẫu chứng: DMSO, gossypol.

Các mẫu thử nghiệm và mẫu chứng sẽ được đưa vào ống nghiệm chứa ấu thể Artemia salina 48 giờ tuổi. Sau 24 giờ, đếm số ấu thể chết, dựa vào kết quả này để tính liều IC50. Quy trình thử nghiệm độc tính trên ấu thể Artemia salina được tóm tắt theo sơ đồ 1.

Kết quả thử nghiệm được trình bày trong bảng 4.

Bảng 4: Kết quả thử nghiệm Brine shrimp

Cây thử Nồng độ thử (µg/ml)
1000 500 100 50
H. nigricans – – – –
H. biflora – + + +
H. herbacea – – – +
H. heynii – + + +
H. merguensis – – – –

Chú ý: (-) Nồng độ gây chết 50%

(+) Nồng độ không gây chết 50%

Nhận xét: kết quả thử nghiệm ở liều IC50 hiệu quả cao, đặc biệt trên cao alcol cây *Hedyotis nigricans .*L, Hedyotis merguensis Hook.f.. là những cây mới chưa ai nghiên cứu ở Việt Namc cũng như trên thế giới.

Kế thừa kinh nghiệm dân gian

Sau một thời gian nghiên cứu cơ bản về mặt hóa học cũng như hoạt tính của một số cây thuộc chi Hedyotis ở Việt Nam. Song song những nghiên cứu khoa học hiện đại kết hợp sự kế thừa các kinh nghiệm y dược cổ truyền dân tộc càng làm sáng tỏ, minh chứng lâu nay dân gian đã phần nào trải nghiệm đúng đắn, tránh sự mò mẫm, không khoa học dễ dẫn đến sự tràn lan không hiệu quả. Trong y học cổ truyền, các cây này thường được phối hợp trong cùng một thang: Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo (và các cây tương tự cùng chi Hedyotis như cỏ lữ đồng, bòi ngòi hai hoa, an điền cỏ, dạ cẩm…), Bồ công anh. Giá trị của những phối hợp này vẫn cần được kiểm chứng thêm bằng nghiên cứu dược lý và lâm sàng.

Bên cạnh đó trên thị trường hiện nay, chúng tôi cũng đã thấy nhiều sản phẩm trong và ngoài nước như : trà Bạch liên thào (VN), hay các chế phẩm Bạch hoa xà thiệt thảo (Trung Quốc) với thành phần dược liệu chủ yếu có một số cây thuộc chi Hedyotis mà chúng tôi nghiên cứu. Như vậy giá trị nguồn dược liệu chúng tôi nghiên cứu không chỉ dừng lại làm sáng tỏ tính khoa học mà còn có những nghiên cứu mới trên sự đa dạng chi Hedyotis mà chưa ai nghiên cứu, điều này góp phần làm tăng sự phong phú, đa dạng nguồn dược liệu nước nhà.

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Hiện nay, dân gian thường sử dụng Bạch hoa xà thiệt thảo Hedyotis diffusa và cỏ lưỡi rắn Hedyotis corymbosa trong nhiều bài thuốc truyền thống; công dụng của các bài thuốc này vẫn cần được kiểm chứng bằng nghiên cứu khoa học.

Ở Việt Nam có nhiều loài cây thuộc chi Hedyotis mà hình thái bên ngoài khá giống nhau, có thể gây ngộ nhận trong quá trình thu hái. Đôi lúc chúng ta cũng thắc mắc tại sao những cây thuốc chỉ có trên núi như vậy khó tiếp cận. Điều này cũng cho thấy chính vì người ta luôn nghĩ rằng cứ lấy cây nào đó giống giống trong dân gian là dùng, là được. Mặc khác, chúng ta cũng hay nhầm lẫn một cây có thể dùng cho nhiều bệnh, điều này không khoa học. Ví dụ như trong các toa thuốc bắc hay thuốc nam khoa học khi kết hợp mỗi vị thuốc đặc trưng của mỗi cây rồi hòa vào nhau để tạo nên một thang thuốc nhắm vào một bệnh chính yếu với các thứ yếu bệnh phụ. Trước hết có thể những cây thông thường ta đã khai thác gần hết song song cũng chính vì sự thiếu thông tin về chúng, đất vườn thu hẹp dần và sự vội vã xem thường dược liệu. Đã bao giờ chúng ta tự hỏi khi những bệnh nan y lại chạy sang hỏi y dược thiên nhiên. Thiết nghĩ, chúng ta nên sớm có cái nhìn thiết thực hơn về sau, kẻo những nguồn dược chưa biết đó biến mất trong chính tầm tay chúng ta.

Vì vậy qua đề tài này chúng ta sẽ có cái nhìn phân biệt chính xác mỗi loài cây tránh nhầm lẫn. Song song cũng góp phần tìm hiểu thêm những cây mới có vị thuốc vào kho tàng dược liệu Việt Nam. Đặc biệt hiện nay người ta có xu hướng quay trở về với cây thuốc và thuốc do thiên nhiên sau một thời gian thuốc tây cho là tân dược mà ít nhiều ảnh hưởng lâu dài chưa biết đươc. Chúng ta không phủ nhận sự ảnh hưởng tích cực rất lớn của thuốc tây. Ngày nay nhiều mô hình bệnh lý thực nghiệm đã cho kết quả nghiên cứu dược lý và lâm sàng. Đó là nhờ sự kết hợp giữa y dược thiên nhiên và hóa dược một cách hiệu quả, khoa học nghiêm túc.

Tài liệu tham khảo: khoa học phổ thông số 189

Bài viết tổng hợp nghiên cứu khoa học về dược liệu, không mô tả công dụng của bất kỳ sản phẩm nào và không thay thế tư vấn của nhân viên y tế.